Nến trong biểu đồ giao dịch và các chỉ báo kỹ thuật cơ bản

1. Nến trong biểu đồ giao dịch

Trong biểu đồ giao dịch và phân tích kỹ thuật, nến là một phần quan trọng để xác định xác xu hướng và các điểm ra, vào lệnh. Snapexvn đã có một bài viết giới thiệu về các loại nến bạn đọc có thể tham khảo thêm Hướng dẫn Phân tích kỹ thuật: Những mẫu hình nến cơ bản

Bài viết này sẽ tổng hợp một số kinh nghiệm của admin liên quan đến việc quan sát nến khi giao dịch.

1.1. Xung lực nến

Xung lực nến thể hiện độ mạnh, yếu của nến tăng hoặc nến giảm hoặc một mẫu nhóm nến tăng, giảm.

Từ việc quan sát các điểm giá mở cửa, đóng cửa, giá cao nhất, giá thấp nhất của nhóm nến kết hợp với mô hình dự đoán và các chỉ số kỹ thuật có thể cho chúng ta điểm vào và thoát lệnh giao dịch một cách tốt nhất.

Thông thường các điểm giá đóng cửa càng gần các điểm giá cao nhất / giá thấp nhất thể hiện lực mua / bán càng mạnh đối với nến tăng/giảm và ngược lại

Để nắm được xung lực nến mạnh, yếu như thế nào chúng ta cần phân biệt được cơ bản các loại nến như duy trì xu hướng (nến cường lực), nến đảo chiều (doji, hammer, shooting star), các mô hình nến tăng trưởng hoặc giảm liên tiếp của nhóm nến (thường từ 3 nến trở lên) và luyện tập thêm việc nhìn chúng trên các đồ thị giá.

Sau các nến cường lực giảm liên tiếp, nến doji xuất hiện và nến tăng sau đó báo hiệu xu hướng giảm đã yếu / kết thúc

1.2. Nến trong các khung giao dịch khác nhau

Thông thường tùy vào phong cách giao dịch khác nhau, chúng ta sẽ dùng các nến trong các khung giờ khác nhau.

Phần dưới đây, chia sẻ kinh nghiệm mình thường dùng với các loại nến khi giao dịch

Nếu giao dịch lướt sóng ngắn ngay khi có dấu hiệu đảo chiều, có thể sử dụng nến 5 phút, 15 phút.

Giao dịch trong ngày có thể sử dụng các nến 30 phút, 1 giờ để tìm kiếm điểm vào lệnh trong ngày và an toàn cho việc xem xét xu hướng trong ngày.

Sử dụng nến 4 giờ trở lên để tìm kiếm xác nhận hoặc đảo chiều của một xu hướng, các điểm và xác định chiến lược giao dịch trong một vài ngày hoặc tuần.

1.3. Nến kết hợp với nến volume giao dịch

Thông thường với các trader mới, chúng ta hay tập trung vào nến giá mà bỏ qua nến khối lượng giao dịch. Việc quan sát đồng thời cả nến giá và volume giao dịch sẽ xác nhận việc tiếp tục hoặc đổi chiều xu hướng chính xác hơn.

Chúng ta cũng có thể sử dụng Tradingview để kiểm tra khối lượng của các giao dịch tại các thời điểm khác nhau.

Hiện tại các sàn giao dịch ngoài việc có các bảng giá vào lệnh cũng đều thể hiện biểu đồ giao dịch là nến giá và nến volume giao dịch ở bên dưới ở cả phiên bản máy tính và điện thoại.

Theo thông tin trên Cointelegraph, sắp tới Coinmarket Cap dự định đưa vào chỉ số thanh khoản của các cặp giao dịch để loại trừ thêm những trường hợp thao túng volume giao dịch của các sàn giao dịch.

2. Các chỉ báo kỹ thuật cơ bản

Bài viết hôm nay không trình bày hết các chỉ số kỹ thuật một trader cần phải biết mà đề cập đến ba chỉ số quan trọng là RSI, Bollinger Band và MA để các trader có thể biết

2.1. Chỉ số sức mạnh tương đối (RSI)

Chỉ báo Relative Strength Index (RSI) có thể cho biết giá đang ở xu hướng giảm, tăng hoặc chưa có xu hướng và cường độ của xu hướng tăng hoặc giảm.

RSI đo lường các thay đổi về giá của một tài sản trong các giai đoạn thời gian lấy con số 14 đơn vị theo biểu đồ nến (ngày, giờ, phút). Chỉ số được xác định bằng cách chia trung bình giá tăng cho trung bình giá giảm trong khoảng thời gian tính và sau đó thể hiện thang số này từ 0 đến 100.

RSI  là chỉ báo động lượng đo lường tốc độ giá. Khi RSI có điểm nằm dưới mức 30, nó cho biết giá crypto có thể gần chạm đáy (quá bán) và có thể tăng sau đó; nếu RSI có điểm nằm trên mức 70, cho biết giá tài sản gần mức đỉnh (quá mua) trong khoảng thời gian đó và có khả năng sẽ giảm. 

Khi RSI dao động trong khoảng 40-60 thường sẽ là lúc thị trường sideway.

Có thể sử dụng phân kỳ RSI để xác định đổi chiều xu hướng và có các chiến thuật hợp lý.

Phân kỳ trong chỉ báo RSI có hai loại là dương và âm 

Phân kỳ dương báo hiệu giá có thể tăng khi 

  • Giá thể hiện các đáy thấp hơn trong khi đó RSI thể hiện các đáy cao hơn 
  • Giá thể hiện các đáy cao hơn trong khi RSI thể hiện các đáy thấp hơn

Phân kỳ âm báo hiệu giá có thể giảm khi

  • Giá thể hiện các đỉnh cao hơn trong khi RSI thể hiện các đỉnh thấp hơn
  • Giá thể hiện các đỉnh thấp hơn trong khi RSI thể hiện các đỉnh cao hơn

Phân kỳ dương của cặp BTC/USDT trong khung ngày từ giữa tháng 5 đến đầu tháng 6 (17/5-9/6) trước khi giá tăng mạnh và đạt gần 14.000 USD vào cuối tháng 6/2019

2.2. Dải Bollinger Band

Công thức chuẩn của Bollinger Bands đặt dải giữa làm một đường trung bình động (SMA) chu kì 20 đơn vị thời gian nến, dải trên và dưới được tính toán dựa theo độ biến động tương đối với đường SMA (được coi là độ lệch chuẩn). Chỉ báo Bollinger Bands thông thường được đặt như sau:

Dải giữa: Đường trung bình động chu kỳ 20 đơn vị tính (SMA)

Dải trên: SMA 20 đơn vị tính + (Độ lệch chuẩn 20 đơn vị tính x2)

Dải dưới: SMA 20 đơn vị tính – (Độ lệch chuẩn 20 đơn vị tính x2)

Cấu trúc của chỉ báo BB lấy lịch sử trong chu kỳ 20 ngày, đặt dải trên và dải dưới cách dải giữa một khoảng bằng 2 lần độ lệch chuẩn. Điều này nhằm đảm bảo rằng ít nhất 85% dữ liệu giá sẽ dao động trong khoảng 2 dải đó, tuy nhiên các thiết lập có thể được tùy chỉnh theo nhu cầu của các chiến lược giao dịch khác nhau.

Công cụ Bolligerband được sử dụng hiệu quả trong thị trường sideway khi giá di chuyển giữa dải trên hoặc dải dưới. Khi sử dụng Bolligerband có thể xác định các điểm ra và vào lệnh hoặc cảnh báo đổi chiều khi thị trường đi ngang.

Khi giá thị trường vượt quá đường trung bình động, vượt quá dải trên của BB, có thể cho rằng thị trường đã vượt ngưỡng và khi giá chạm đến dải trên nhiều lần, khi đó nó có thể đã chạm đến một mức kháng cự khá mạnh. Ngược lại, khi giá một tài sản trên thị trường giảm sâu đến khi chạm, hoặc vượt ra khỏi dải dưới nhiều lần, rất có thể khi đó thị trường đã chạm ngưỡng quá bán hoặc gặp phải một mức hỗ trợ mạnh. Khi đó cần kết hợp với các chỉ báo và các công cụ khác để xác định thị trường sẽ tăng hoặc giảm.

Ngoài ra, việc xem xét Bollinger Bands mở rộng hay bó hẹp cũng rất hữu dụng trong việc phán đoán các điểm biến động cao hay thấp. Các dải này sẽ phân kỳ khỏi dải giữa trong trường hợp giá biến động lớn (mở rộng) hoặc hội tụ dần khi biên độ giá thấp hơn (bó hẹp).

Bolligerband khung 1 giờ co lại vào ngày 24-25/10/2019 trước khi giá tăng mạnh vào tối ngày 25/10 và 26/10 và sau đó dải mở rộng khi biên độ giá biến động lớn

2.3. Chỉ báo đường trung bình (MA)

Có hai loại đường trung bình thường dùng trong phân tích là:

  • Đường trung bình đơn giản – Simple Moving Average (SMA)
  • Đường trung bình hàm mũ – Exponential Moving Average (EMA)

Đường trung bình động đơn giản được tính bằng cách lấy trung bình giá đóng cửa của các phiên giao dịch đang được xem xét. Thông thường các chỉ số SMA thường dung là SMA50, SMA100, SMA200.

Do có sự trễ nhất định của chỉ báo và chú trọng vào giá cuối của SMA; SMA100 và SMA200 thường được dùng để xem xu hướng và dự đoán giá trong trung hạn và dài hạn của một tài sản.

Đường trung bình động hàm mũ được tính bằng công thức

EMA = (Giá * (2/(N+1)) + (EMA’*(1- (2/(N+1))

Trong đó

Giá là giá tại thời điểm tính EMA

N là khoảng thời gian tính EMA

EMA’ là giá trị EMA của ngày (hoặc giờ, phút) trước đó 

Đường trung bình hàm mũ (EMA) sẽ hiển thị những biến động nhanh hơn, tốt hơn để phát hiện những bất thường, các đảo giá đang xảy ra trong ngắn hạn. Và chính đó cũng là nhược điểm của nó, vì quá nhạy cảm nên EMA dễ đưa ra các dấu hiệu giả và các báo hiệu sai lầm hơn.

Ngoài ba chỉ số kỹ thuật cơ bản trên, còn rất nhiều chỉ số khác traders có thể sử dụng trong quá trình phân tích biểu đồ như Sự dịch chuyển định hướng (DI), MACD, chỉ báo về khối lượng,… để phục vụ cho việc xác định xu hướng và tìm các điểm ra vào lệnh và giao dịch của mình.